Chống dịch như chống giặc – Toàn dân quyết tâm ngăn chặn kịp thời dịch bệnh COVID-19 – Khi nghi ngờ bị mắc COVID-19, hãy gọi ngay tới đường dây nóng 0967.321.515 – 02183.857.005
Hình minh họa. Nguồn: Zoomer Radio

1. Dư luận xã hội là ý kiến công khai của dân chúng, của đám đông; hiện tượng xã hội thuộc đời sống tinh thần thực tế của xã hội; phức thể các ý kiến đánh giá, biểu thị quan điểm, thái độ và định hướng hành động của các nhóm xã hội về những sự kiện xảy ra trong xã hội có liên quan đến lợi ích của nhóm xã hội.

Chủ thể của dư luận xã hội là tất cả các thành phần trong cơ cấu xã hội, các nhóm xã hội; các tập hợp người theo giai tầng xã hội, khu vực địa lý, nghề nghiệp, giới tính, lứa tuổi, dân tộc (tộc người), tôn giáo,...

Chủ đề, nội dung của dư luận xã hội là những sự kiện xảy ra trong đời sống xã hội, thường gắn với những dấu mốc, thời điểm quan trọng của đất nước, của địa phương; với việc ban hành, thực thi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và các quy định của địa phương; với thái độ, hành vi của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên giữ cương vị chủ chốt các cấp. Các nhóm xã hội chỉ hình thành dư luận nếu sự kiện đó liên quan đến lợi ích của họ. Vấn đề lợi ích là “trục xuyên tâm” của dư luận xã hội.

Như vậy, có thể thấy rằng, đa dạng về chủ thể, phức tạp về chủ đề, nội dung và tính lợi ích là các đặc trưng cơ bản của dư luận xã hội. Thực hành nắm bắt dư luận xã hội phải trả lời cho được 3 câu hỏi: Dư luận xã hội của nhóm xã hội nào? Vấn đề, nội dung chủ đạo của dư luận xã hội đó là gì? Lợi ích bao trùm, theo đuổi của nhóm xã hội chủ thể của dư luận xã hội đó là gì?

Dư luận xã hội là một hiện tượng xã hội phổ biến trong đời sống xã hội, có vai trò thống nhất nhận thức, định hướng và điều chỉnh hành vi, giải tỏa tâm lý xã hội và tư vấn, giám sát.

2. Dư luận xã hội là ý kiến của đông đảo người dân, biểu thị sự đánh giá, thái độ và định hướng hành động của các nhóm xã hội về sự kiện xã hội liên quan đến lợi ích của họ. Theo đó, có thể hiểu rằng, dư luận xã hội phản ánh tâm tư, nguyện vọng của người dân về những vấn đề ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của họ. Nắm bắt dư luận xã hội là nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, thực hiện quan điểm “dân là gốc nước”.

Thời điểm hiện nay, việc nắm bắt, định hướng dư luận xã hội nên được xem là phong cách lãnh đạo, phương thức quản lý xã hội và là trách nhiệm của cán bộ, đảng viên. Cán bộ, đảng viên các cấp thực hành nắm bắt, định hướng dư luận xã hội là “người biết lãnh đạo”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy, gom góp ý kiến của từng bộ phận thành ý kiến chung, đem ý kiến chung đó đúc thành chỉ thị, khéo tập trung ý kiến của quần chúng, hóa nó thành cái đường lối lãnh đạo quần chúng, làm như thế “mới thật là biết lãnh đạo”. Người chỉ rõ, người lãnh đạo phải: “…gom góp ý kiên rời rạc, lẻ tẻ của quần chúng, rồi phân tích nó, nghiên cứu nó, sắp đặt nó thành những ý kiến có hệ thống. Rồi đem nó tuyên truyền, giải thích cho quần chúng, và làm cho nó thành ý kiến quần chúng, và làm cho quần chúng giữ vững và thực hành ý kiến đó. Đồng thời nhân lúc quần chúng thực hành, ta xem xét lại, coi ý kiến đó có đúng hay không. Rồi lại tập trung ý kiến của quần chúng, phát triển những ưu điểm, sửa chữa những khuyết điểm, tuyên truyền, giải thích làm cho quần chúng giữ vững và thực hành. Cứ như thế mãi thì lần sau chắc đúng mực hơn, hoạt bát hơn, đầy đủ hơn trước. Đó là cách lãnh đạo cực kỳ tốt”(2).

Nắm bắt tốt dư luận xã hội sẽ phát huy được quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền với nhân dân. (Ảnh minh họa - Báo Vĩnh Long)

Nắm bắt tốt dư luận xã hội sẽ phát huy được quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền với nhân dân. (Ảnh minh họa - Báo Vĩnh Long)

Theo lời dạy của Hồ Chí Minh, việc nắm bắt, định hướng dư luận xã hội, trước hết phải “gom góp”, “phân tích”, “nghiên cứu” những ý kiến của quần chúng, sắp đặt nó thành “hệ thống”. Nghĩa là, việc nắm bắt dư luận xã hội phải tuân theo một quy trình, phân tích theo phương pháp khoa học, dựa trên cơ sở lý luận và tình hình thực tế, khung cảnh xã hội của từng dư luận xã hội, để sắp đặt nó thành “hệ thống” các ý kiến của quần chúng. Trên cơ sở phân tích dư luận xã hội mà “đúc thành chỉ thị”, xây dựng và ban hành các chủ trương, chính sách, quy định,… Tiếp theo, phải đem kết quả nghiên cứu đó tuyên truyền, giải thích cho quần chúng, để quần chúng hiểu đúng về vấn đề của dư luận xã hội, hiểu rõ chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, “làm cho quần chúng giữ vững và thực hành ý kiến của lãnh đạo”, trên cơ sở đó mà thống nhất nhận thức, tư tưởng, hành động, tạo sự đồng thuận cao trong xã hội. Như thế, cần nên chuyển hóa kết quả nắm bắt, phân tích, nghiên cứu dư luận xã hội thành nội dung của công tác tuyên giáo, công tác dân vận, nội dung tuyên truyền, vận động nhân dân của các tổ chức, đoàn thể chính trị - xã hội và cán bộ, đảng viên.

3. Dư luận xã hội được hình thành thông qua các bước (giai đoạn): Bàn luận và thống nhất nhận định; Thống nhất thái độ; Xác định phương thức hành động. Tiếp nhận, chứng kiến các sự kiện xã hội liên quan đến lợi ích, các nhóm xã hội sẽ tiến hành bàn thảo, đi đến thống nhất nhận định về sự kiện đó; sau đó là định hướng thái độ đồng tình hay phản đối và tiếp theo là xác định phương thức hành động đồng tình hay phản đổi.

Thực hành định hướng dư luận xã hội, trước hết là cung cấp thông tin đủ, đúng, kịp thời về sự kiện xã hội giúp cho người dân “có đủ thông tin chính thống” để bàn luận, thống nhất nhận thức và hình thành thái độ đúng với chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước. Khi các nhóm xã hội đã chuyển sang giai đoạn bàn thảo phương thức hành động thì tiếp tục thông tin, tập trung vào những thông tin về pháp luật, về quyền và nghĩa vụ công dân, về dân chủ và pháp luật, về hành vi được làm và không được làm, về các quy phạm pháp luật. Như thế, phương thức chủ yếu của hoạt động định hướng dư luận xã hội là “cung ứng thông tin đủ, đúng, kịp thời”, là hoạt động tuyên truyền, vận động nhân dân.

Trình độ dân trí là một yếu tố ảnh hưởng đến tính chất dư luận xã hội tích cực hay tiêu cực. Trình độ dân trí ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ là trình độ học vấn, mà là sự hiểu biết hay là tri thức của người dân liên quan đến các sự kiện xã hội, trong đó có hiểu biết về chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, về tình hình kinh tế - xã hội của địa phương và các tri thức khoa học. Thực tế hiện nay cho thấy, sự hiểu biết của người dân liên quan đến các sự kiện xã hội chưa thật đầy đủ, chưa thật đúng, chưa cập nhật, vì thế trong nhiều trường hợp sự bàn luận đi đến thống nhất nhận thức và thái độ về các sự kiện xã hội dễ sai lệch theo chiều hướng tiêu cực. Thực tế đó càng đỏi hỏi phải “cung ứng thông tin đủ, đúng, kịp thời” cho người dân. Ở những thời điểm lịch sử quan trọng, trong quá trình chuẩn bị, ban hành và thực thi những quyết sách của Đảng, Nhà nước và địa phương,… cần chú trọng đẩy mạnh tuyên truyền để mọi người dân nắm được thông tin đầy đủ, chính xác, cập nhật. Dân có “biết” thì việc “bàn, làm, kiểm tra, giám sát, thụ hưởng” mới được phát huy tích cực. Những đòi hỏi đó càng cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của hoạt động tuyên truyền, vận động nhân dân.

4. Cung ứng thông tin đủ, đúng, kịp thời, tuyên truyền cho người dân về đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, về các vấn đề về kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước,... trước hết là trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên ở cơ sở. Cán bộ, đảng viên phải “… tăng cường đối thoại, tiếp xúc với nhân dân, lắng nghe tâm sự của nhân dân, kịp thời giải quyết nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân”(3). Thực hiện trách nhiệm đó, và để đối thoại, giải quyết kịp thời nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân, đòi hỏi cán bộ, đảng viên phải có tinh thần trách nhiệm cao, bản lĩnh vững vàng và tri thức phong phú. Trách nhiệm - Bản lĩnh - Tri thức là ba yếu tố cần đủ, gắn kết với nhau trong hoạt động tuyền truyền, vận động, cung ứng thông tin cho người dân của cán bộ, đảng viên; thiếu một trong ba yếu tố đó, cán bộ, đảng viên khó có thể thực hiện đúng, tốt vai trò lãnh đạo “định hướng dư luận xã hội”. Hiện nay, cần phải chú trọng bồi đắp cả ba yếu tố đó cho đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên ở cơ sở, những người sống với dân hàng ngày. Trong đó, vấn đề nổi cộm nhất là bồi dưỡng tri thức cho cán bộ, đảng viên. Có thể dễ nhận thấy rằng, cán bộ, đảng viên ở cơ sở đang thiếu tri thức cần thiết, chưa được tiếp cận đủ, kịp thời với “thông tin chính thống”. Do vì không đủ tri thức nên họ bị động, lúng túng trong việc đối thoại với nhân dân, trong thực hành định hướng dư luận xã hội cho các nhóm xã hội nơi mình sinh sống. Có lẽ cần nên tích cực đổi mới cách thức bồi dưỡng tri thức cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở và bằng cách nào đó kịp thời đưa được thông tin chính thống đến cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở. Đồng thời có cách thức cụ thể, hiệu quả khuyến khích cán bộ, đảng viên tự học, ham đọc, ham nghiên cứu, sưu tầm tri thức. Căn bệnh lười học, ngại đọc, ngại nghiên cứu trong cán bộ, đảng viên chậm được khắc phục thì hoạt động đối thoại, kịp thời giải quyết nguyện vọng hợp pháp, chính đáng của nhân dân của cán bộ, đảng viên khó có hiệu quả, việc nắm bắt, định hướng dư luận xã hội từ cơ sở khó có thể được thực hiện tốt.

Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Đà Nẵng, Chủ tịch HĐND thành phố Lương Nguyễn Minh Triết trao tặng bằng khen cho 8 tập thể có thành tích xuất sắc trong công tác báo cáo viên và công tác dư luận xã hội nhiệm kỳ 2015 - 2020

Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Đà Nẵng, Chủ tịch HĐND thành phố Lương Nguyễn Minh Triết trao tặng bằng khen cho 8 tập thể có thành tích xuất sắc trong công tác báo cáo viên và công tác dư luận xã hội nhiệm kỳ 2015 - 2020

5. Truyền thông có vai trò quan trọng trong việc cung ứng thông tin, định hướng dư luận xã hội. Vấn đề đặt ra mang tính cấp thiết hiện nay là, thực hành quản lý nhằm phát huy vai trò của truyền thông trong cung ứng thông tin, định hướng dư luận xã hội. Song hành với quản lý truyền thông đại chúng cần có những giải pháp quản lý thông tin xã hội, mạng xã hội. Thời gian vừa qua, ở một vài thời điểm, thông tin trên các trang mạng xã hội đã gây nhiễu loạn nhận thức, tạo dựng thái độ tiêu cực trong một vài nhóm xã hội đối với một số vấn đề xã hội ở nước ta. Ngăn chặn, đấu tranh với các thông tin không đúng, tin giả trên các trang mạng xã hội là một nội dung trọng điểm trong hoạt động định hướng dư luận xã hội.

Hiện nay, các thế lực thù địch tiếp tục tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước và đất nước ta. Chúng đã và đang sử dụng truyền thông, mạng xã hội để tung tin giả, thông tin xuyên tạc sự thật,… làm nhiễu loạn thông tin về tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước, gây nên sự rối loạn về nhận thức, lôi kéo người dân chuyển dần sang thái độ tiêu cực đối với đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, qua đó mà nhen nhóm hình thành tư tưởng, hành vi chống đối.

Việc nắm bắt, ngăn chặn, đấu tranh với tin giả, các trang tin xuyên tạc sự thật của các thế lực thù địch là công việc cấp thiết hiện nay để định hướng dư luận xã hội theo chiều hướng tích cực, ngăn ngừa sự hình thành tư tưởng, hành vi chống đối.

Một hoạt động rất quan trọng khi xuất hiện dư luận xã hội bị thao túng bởi tin giả, thông tin xuyên tạc sự thật là “cung ứng thông tin đủ, đúng, kịp thời” cho người dân. Theo đó, với vai trò lãnh đạo của mình, cán bộ, đảng viên phải đi vào các điểm nóng dư luận xã hội để lắng nghe tâm sự của người dân, tiến hành đối thoại, tuyên truyền cho nhân dân hiểu đúng chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, tình hình kinh tế - xã hội của địa phương và vạch trần âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch. Trong chiến tranh giải phóng, cán bộ, đảng viên bám dân để tuyên truyền, vận động, tổ chức nhân dân đấu tranh giành độc lập dân tộc, góp phần tạo dựng chiến tranh nhân dân. Ngày nay, cán bô, đảng viên hàng ngày sống cùng nhân dân phải có trách nhiệm, và nên xem là trách nhiệm hàng đầu, công việc hàng ngày là tuyên truyền, vận động nhân dân, tạo dựng “chiến tranh nhân dân” trong đấu tranh phản bác tin giả, thông tin xuyên tạc sự thật, đấu tranh với âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch trên truyền thông, trên các trang mạng xã hội.

Trước sự chống phá của các thế lực thù địch, không ai khác, cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ, đảng viên ở cơ sở phải đi đầu trong hoạt động tuyên truyền, vận động nhân dân, giảng giải cho dân hiểu về chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, tình hình kinh tế - xã hội của địa phương; vạch trần âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch. Cán bộ, đảng viên ở cơ sở là “lãnh đạo tại chỗ”, “lực lượng tại chỗ” trong hoạt động nắm bắt, định hướng dư luận xã hội. Thực hiện được như vậy, hoạt động nắm bắt, định hướng dư luận xã hội mới kịp thời, chất lượng và hiệu quả.

Đẩy mạnh tuyên truyền thông tin chính thống; ngăn chặn, phản bác với các tin giả, thông tin xuyên tạc sự thật trên truyền thông, trên các trang mạng xã hội; đẩy mạnh đối thoại trực tiếp, tuyên truyền vận động nhân dân để định hướng dư luận xã hội tích cực, góp phần vào củng cố “thế trận lòng dân”, tạo dựng nền tảng vững chắc cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.

PGS. TS. Phạm Xuân Hảo

_______________________

(1) (3) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2021, t.1, tr.181, 193.

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, H, 2000, t.5, tr 290-291.

Ảnh minh họa

“CHÁY” GIÁO ÁN

Xét về lý thuyết, việc phân bổ thời gian giữa các ý, các nội dung của bài tuyên truyền cần có sự hợp lý, khoa học và logic, tạo nên tổng thể cân đối. Việc “cháy” giáo án, cháy “đề cương” xảy ra thường do việc báo cáo viên quá say sưa tập trung vào một phần nào đó, mà quên đi tính cân xứng tương đối giữa các nội dung.

Tất nhiên, cũng có thể báo cáo viên tập trung vào một, hai phần chính, lướt qua ở những phần còn lại, nhưng việc “cháy” giáo án, đề cương bài nói tới mức “đầu voi đuôi chuột”, thậm chí phần đuôi gần như chỉ còn là những đề mục, không phân tích, thiếu thông tin minh chứng… dẫn tới sự thiếu hoàn chỉnh của nội dung tuyên truyền, gây khó khăn cho đối tượng tiếp nhận thông tin.

Không loại trừ việc “cháy” giáo án xuất phát chính từ đòi hỏi của người nghe. Có những trường hợp, trong quá trình tuyên truyền, quán triệt, các học viên đề nghị báo cáo viên nói rõ, phân tích rõ hơn phần hoặc nội dung nào đó, dẫn tới, các phần nội dung sau bị cắt bớt cho kịp thời gian. Việc cắt bớt này “khéo léo” hay “vụng về” phụ thuộc vào bản lĩnh, cách xử lý của báo cáo viên, tuyên truyền viên.

KHÔNG PHÂN BIỆT ĐỐI TƯỢNG TIẾP NHẬN THÔNG TIN

Việc phân biệt các đối tượng tiếp nhận thông tin để lựa chọn hình thức thông tin, phương thức thông tin, nội dung thông tin là một trong những yêu cầu quan trọng của báo cáo viên, tuyên truyền viên. Cách nói chuyện với tầng lớp thanh niên chắc chắn sẽ khác với đối tượng người cao tuổi; giữa đội ngũ lãnh đạo cấp xã sẽ khác với đội ngũ lãnh đạo trong các cơ quan nhà nước… Tuy nhiên, thực tế, không ít báo cáo viên chưa có sự phân biệt rành rọt, chưa lựa chọn được thông tin phù hợp, nội dung cần quan tâm, phương thức chuyển tải thích hợp khi tiếp cận và tuyên truyền cho các đối tượng khác nhau.

Chuyện “dở khóc, dở cười” sẽ xảy ra  khi mang những ý tưởng hàn lâm, ngôn ngữ khoa học quá chuyên biệt tới quán triệt cho những cán bộ thôn, xã; hay đưa những kiến thức ở dạng “vỡ lòng” tới phổ biến cho đội ngũ lãnh đạo cơ quan nhà nước.

THIẾU TƯƠNG TÁC

Thiếu giao lưu, tương tác, trao đổi giữa người tuyên truyền và người nghe là một trong những nhược điểm thường mắc trong quá trình tuyên truyền miệng. Một phần do sự hạn chế về thời gian, dẫn tới, nói hết nội dung là hết giờ, báo cáo viên không thể xoay xở, dành dụm được chút nào, hoặc nếu có chỉ là tầm 10, 15 phút cuối, cũng không đủ để trao đổi, đối thoại, giải đáp thắc mắc.

Chưa kể, không ít báo cáo viên còn chưa có kinh nghiệm, ngại trao đổi, sợ bị đặt câu hỏi khó, nên sẽ càng tiết giảm phần thời gian trống để tương tác người nghe. Thiếu tương tác tạo nên những buổi tuyên truyền có tính độc thoại, kém hấp dẫn và sôi nổi, giảm hiệu quả tuyên truyền, cũng như không tháo gỡ được những khó khăn giúp cho học viên trong quá trình tiếp thu nội dung tuyên truyền.

QUÁ PHỤ THUỘC CÔNG NGHỆ

Trong giai đoạn hiện nay, phần lớn báo cáo viên, tuyên truyền viên đều tận dụng ưu thế công nghệ thông tin để phục vụ bài nói của mình. Chỉ với laptop, thông qua hệ thống máy chiếu, bài giảng được trình bày slide, với text cùng hình ảnh, clip đã thực sự tạo ra sự sinh động, phong phú và dễ tiếp thu hơn rất nhiều đối với người nghe.

Tuy nhiên, nếu không biết tiết chế, gia giảm, người trình bày chỉ “chăm chăm” kích chuột, trình chiếu và người nghe chỉ mải miết xem, hưởng thụ như xem phim, thì sự lắng đọng, sự tiếp nhận thông tin sẽ chỉ dừng ở mức độ tầm trung. Chưa kể nhiều báo cáo viên chưa có kinh nghiệm làm slide, quá câu nệ hình thức, nên tăng các gam màu xanh đỏ, các khối hình vuông tròn, “cao hứng” lại cho slide lúc chạy nhanh, khi chạy chậm làm chóng mặt người tiếp nhận phía dưới.

Cũng có trường hợp dở khóc dở cười, máy tính hoặc máy chiếu trục trặc, buộc phải trao đổi “chay”. Người nói thì lúng túng, bất ngờ vào thế khó, vì vốn phụ thuộc công nghệ, bài chuẩn bị slide lại thường chỉ có ý chính, phụ thuộc video, ảnh minh họa, nên lúc trình bày sẽ bị hụt hẫng, “giảm nhiệt”.

“PHỤ DÀI, CHÍNH NGẮN”

Có báo cáo viên bào chữa lỗi này, rằng, trước khi đi giảng, bên mời thường nói nhỏ: Anh nói cho chúng em vài câu chuyện ngoài lề, cơ mật một chút, vui vẻ một chút, cho anh em đỡ mệt khi nghe truyền đạt. “Được lời như cởi tấm lòng”, người nói khi trình bày sẽ tiết giảm phần chính, đan xen phần phụ. Mà nội dung đan xen lại hơi dày. Người ngồi phía dưới lúc nghe vài câu chuyện vui, ngoài lề được báo cáo viên “chia sẻ riêng, phạm vi nhỏ” cũng thích, nhưng rốt cục tới cuối buổi, những câu chuyện vốn là phần phụ lại chiếm dung lượng khá nhiều trong khi phần chính lại thu nhỏ tối đa. Hiệu quả tuyên truyền vì vậy cũng giảm đi không ít…

DIỄN NGÔN CHƯA HẤP DẪN

Một trong những yêu cầu cần thiết của báo cáo viên, tuyên truyền viên là phải có kỹ năng tuyên truyền để tăng tính hấp dẫn, thuyết phục và lôi cuốn đối với người nghe. Tuy nhiên, không phải bất kỳ báo cáo viên, tuyên truyền viên nào cũng có được kỹ năng này. Giọng nói đều đều, không lên trầm, xuống bổng; khuôn mặt thiếu biểu cảm; ngôn từ khô khan; khả năng thuyết trình chưa tốt… ít nhiều chi phối và làm giảm hiệu quả tuyên truyền. Không ít địa phương phản ánh, đề nghị các hội nghị báo cáo viên của tỉnh cần có báo cáo viên Trung ương về trực tiếp quán triệt, trao đổi. Một phần nguyên nhân cũng là kỹ năng của báo cáo viên địa phương chưa tốt, chưa lôi cuốn và thuyết phục với người nghe.

KHOE THÀNH TÍCH

“Lỗi” này khá cá biệt, nhưng lại thường tập trung vào một số báo cáo cáo viên, tuyên truyền viên lâu năm, được đi nhiều nơi, tiếp xúc nhiều người. Người nghe bên cạnh việc tiếp nhận thông tin tuyên truyền, sẽ được nghe “trải lòng” về chuyến đi nước A, nước B, việc dự hội nghị này, hội nghị khác, rồi những chuyện “bếp núc” phía sau; cá biệt còn được nghe kể về “lý lịch” thành tích của báo cáo viên.

Oái oăm là những câu chuyện đôi khi chệch quỹ đạo nội dung bài giảng, chỉ đơn thuần để kể cho vui mà thôi. Những “hương vị” này nếu chỉ là chút xíu thì người nghe còn cảm thấy chấp nhận được, nhưng nếu quá đà, thì những buổi thuyết giảng xen lẫn khoe thành tích cá nhân thực sự sẽ gây ức chế cho người nghe.

****

Những “lỗi” cơ bản nêu trên là những điều mà nhiều người làm công tác tuyên truyền miệng “không ít thì nhiều” đã từng mắc phải, có những lỗi thuộc về kỹ năng (diễn ngôn thiếu hấp dẫn), có những lỗi thuộc về thói quen (quá phụ thuộc công nghệ), có lỗi lại thuộc về bản tính, nhược điểm cá nhân (khoe thành tích), có những lỗi lại cần tích lũy thêm kinh nghiệm để xử lý (cháy giáo án, không phân biệt đối tượng tiếp nhận thông tin, thiếu tương tác)…Với mỗi lỗi, lại tương ứng với cách sửa lỗi khác nhau. Lỗi nhược điểm cá nhân, thì cần nhận rõ, khắc phục. Lỗi kỹ năng thì không cách gì khác hơn là phải thường xuyên trau dồi, lắng nghe góp ý, phê bình, tích cực học tập những báo cáo viên kinh nghiệm.

Một báo cáo viên “già nghề” đã từng chia sẻ rằng, ông thường xuyên tự ghi âm bài nói của mình về để nghe lại, tự chỉnh sửa những lỗi nếu phát hiện ra. Nghe lại, đôi khi thấy tự xấu hổ vì mình nói “chưa tới”, mắc những lỗi cơ bản trong tuyên truyền. Không những thế, ông luôn tìm cách tiếp cận học viên để thăm dò việc tiếp thu thông tin, góp ý cách trình bày của mình.

Nhận ra lỗi, sửa lỗi cũng cốt để hướng tới những buổi tuyên truyền, trao đổi, quán triệt hiệu quả, hạn chế tối đa những giờ quán triệt, học tập “online, lướt mạng” cho hết thời gian…

Suy cho cùng, nhìn lại mình, tự sửa mình âu cũng là một cách để hoàn thiện mình của mỗi báo cáo viên, tuyên truyền viên./.

Song Minh - BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG

(Ảnh minh họa)

“Với tất cả sự khiêm tốn của người cộng sản”(1), có thể khẳng định thành công của Việt Nam trong phòng, chống đại dịch COVID-19 là minh chứng hùng hồn cho sự ưu việt của chế độ ta, trong đó có sự lãnh đạo sát sao của Đảng, chỉ đạo hiệu quả của Chính phủ, sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị. Đây là các yếu tố mà cộng đồng quốc tế phải thừa nhận và đánh giá cao. Tuy nhiên, một số thế lực phản động vẫn cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam “ăn may” hoặc “giấu dịch”. Một số nhà phân tích và bình luận phương Tây, với định kiến vốn có về chủ nghĩa xã hội (CNXH) và các Đảng Cộng sản, cho rằng Việt Nam vận dụng “chế độ độc đảng toàn trị” nên dễ dàng thắt chặt kiểm soát, khoanh vùng dịch bệnh, đồng thời nhân dịp này kiểm soát truyền thông, báo chí, dư luận. Thoạt tiên, truyền thông các nước nói nhiều hơn đến các “nền dân chủ” thành công trong chống dịch như Hàn Quốc, Singapore… Đồng thời, họ cho rằng các nước Đông Á với tư duy Khổng giáo có thuận lợi về chính trị và xã hội hơn các nước phương Tây trong phòng chống dịch bệnh. Tuy nhiên, thực tiễn diễn ra ở các nước Đông Á và tại Việt Nam đã chứng minh nước ta có những đặc thù riêng, và cách làm của Việt Nam cuối cùng đã thuyết phục được cộng đồng quốc tế.

Soi chiếu tính hiệu quả của mô hình quản trị Việt Nam trong phòng, chống dịch COVID-19 với các tiêu chí của “quản trị quốc gia tốt” do Cơ quan Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) đưa ra cho thấy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã thực sự phát huy được tính ưu việt của chế độ XHCN, vận hành hiệu quả hệ thống chính trị phục vụ các mục tiêu của đất nước.

TIÊU CHÍ QUẢN TRỊ TỐT VÀ SỰ ỨNG DỤNG Ở VIỆT NAM TRONG ĐẠI DỊCH COVID-19

Đại dịch COVID-19 đã phơi bày sự yếu kém của quản trị toàn cầu - “tập hợp các thể chế, quy định, chuẩn tắc và dàn xếp pháp lý nhằm quản lý quan hệ giữa các quốc gia và tạo thuận lợi cho các hoạt động hợp tác quốc tế trên nhiều lĩnh vực vấn đề khác nhau”(2). Khi những kỳ vọng về “quản trị toàn cầu” để xử lý thách thức toàn cầusuy giảm, “quản trị quốc gia” đã thể hiện được tầm quan trọng trong việc xử lý khủng hoảng với một số mô hình quốc gia xử lý, kiểm soát dịch bệnh hiệu quả, toàn diện.

Khái niệm quản trị quốc gia đã xuất hiện từ những năm 1970. Xét một cách đơn giản, quản trị quốc gia (national governance) là thông qua các thể chế chính thức hoặc phi chính thức để kiểm soát, quản trị các nguồn lực của đất nước(3). Từ những năm 1990, quản trị quốc gia tốt (good governance) ngày càng được đề cập nhiều hơn. Hiện nay, có nhiều định nghĩa về quản trị quốc gia tốt từ các tổ chức kinh tế, chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội khác nhau. Tuy nhiên, tựu chung lại đều mang 8 đặc điểm/tiêu chí căn bản: 1) “sự tham gia (participatory); 2) định hướng đồng thuận (consensus oriented); 3) trách nhiệm giải trình (accountable); 4) sự minh bạch (transparent); 5) sự kịp thời (responsive); 6) tính hiệu lực (effective) và hiệu quả (efficient); 7) tính bình đẳng và không loại trừ chủ thể nào (equitable and inclusive); 8) tuân thủ pháp quyền (follows the rule of law)(4). Trên thực tế, việc đánh giá thể chế các quốc gia thông qua 8 tiêu chí quản trị tốt còn có nhiều ý kiến khác nhau. Trong đó, một số nhấn mạnh và có xu hướng thiên về nhân quyền, đa nguyên…. Một số khác đòi hỏi việc ứng dụng phải phù hợp với đặc thù của mỗi quốc gia.

ỨNG DỤNG THỰC TIỄN CỦA VIỆT NAM ĐỐI VỚI 8 TIÊU CHÍ QUẢN TRỊ QUỐC GIA TỐT

Trong cuộc chiến chống dịch COVID-19, Việt Nam là một trong số rất ít các quốc gia đã thể hiện năng lực ứng phó và kiểm soát dịch COVID-19 hiệu quả, được thế giới đánh giá cao. Thậm chí, truyền thông và các chuyên gia quốc tế còn cho rằng Việt Nam là “một hình mẫu trong cuộc chiến chống COVID-19 với chi phí thấp”(5). Xem xét theo 8 tiêu chí quản trị tốt, có thể thấy Việt Nam đã vận dụng nhuần nhuyễn và phù hợp thực tiễn của đất nước để đạt được và thậm chí vượt hơn các tiêu chí quốc tế.

Một là, Việt Nam đã huy động mọi nguồn lực và cả hệ thống chính trị vào cuộc (sự tham gia - participatory).

Ngay từ những ngày đầu khi dịch COVID-19 bắt đầu bùng phát, Việt Nam đã sớm xác định được chiến lược cụ thể để kịp thời ứng phó với dịch COVID-19. Là một nước có đường biên giới sát với Trung Quốc - nơi bùng phát dịch COVID-19, nhưng Việt Nam không hề bị bất ngờ, đã chủ động huy động sức mạnh của cả hệ thống chính trị trên toàn quốc cùng phòng chống dịch. Hàng loạt văn bản chỉ đạo của Đảng, Chính phủ được ban hành, nhiều phương án, biện pháp phòng chống được triển khai nhằm nhắc nhở người dân mức độ nguy hại của dịch bệnh, đồng thời nâng cao nhận thức và sự đồng thuận, thống nhất giữa các cấp ủy Đảng, chính quyền từ Trung ương đến địa phương(6).Cùng với đó, Đảng và Chính phủ đã thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng chống dịch COVID-19, các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương cũng thành lập ngay Ban Chỉ đạo phòng chống dịch.

Các hoạt động phòng chống dịch không chỉ được thực hiện bởi ngành y tế, mà còn có sự tham gia của lực lượng vũ trang, ngành ngoại giao, các cơ quan thông tấn, báo chí Trung ương và địa phương. Với mục tiêu rõ ràng “vì sức khỏe của nhân dân”, các chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ được nhân dân ủng hộ, chung tay thực hiện. Người dân không chỉ trực tiếp tham gia vào công tác chống dịch mà còn chủ động đẩy mạnh hưởng ứng các hoạt động an sinh xã hội mà Đảng và Chính phủ đề ra. Các tờ báo nước ngoài, chẳng hạn như nhật báo Hampshire của Mỹ ngày 11/5, đã có những nhận xét về sự tham gia nhanh chóng, kịp thời và đầy đủ của Việt Nam từ lãnh đạo, đến các ban ngành và tới nhân dân(7). Báo The Nation nhận xét, do sự huy động hàng loạt tất cả các nguồn lực, không gì lạ khi chính phủ gọi chiến dịch chống dịch COVID-19 là “Cuộc tổng tiến công mùa Xuân năm 2020”.

Hai là, Việt Nam đã tạo ra khuôn khổ hành lang pháp lý và thể chế đối phó với dịch bệnh, đồng thời nhấn mạnh bảo vệ quyền con người - (follows the rule of laws).

Để đối phó với dịch bệnh, Việt Nam đã có khung pháp lý và thể chế tương đối đầy đủ, rõ ràng, minh bạch và hiệu quả. Về pháp lý, có thể khẳng định, các chỉ đạo, bước đi trong công tác lãnh đạo của Đảng và Chính phủ đều dựa trên cơ sở đánh giá thực tiễn và luật pháp (đơn cử là Luật phòng, chống bệnh truyền nhiễm có hiệu lực từ 1/7/2008.). Về thể chế, Ban Chỉ đạo quốc gia được thành lập và được xem cơ quan chỉ đạo cao nhất cho chiến dịch phòng chống COVID-19 với phương châm “4 tại chỗ” gồm chỉ đạo tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ.

Trong thời gian đối phó với đại dịch COVID-19, Nhà nước đã đưa ra nhiều văn bản cấp thiết đối với tình hình, trong đó có Quyết định số 447/QĐ-TTg công bố dịch bệnh trên cả nước, đồng thời bắt buộc thực hiện các quy định trong các văn bản, chỉ thị của Thủ tướng(8). Các văn bản này được xác định là văn bản quy phạm pháp luật, bắt buộc mọi người phải tuân theo, áp dụng trên phạm vi cả nước, người nào vi phạm các quy định thì phải chịu chế tài theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, các cấp địa phương theo thẩm quyền của mình cũng đưa ra những quyết định để người dân nghiêm chỉnh thực hiện. Chẳng hạn, đầu tháng 4/2020, Sở Tư pháp Hà Nội đã công bố mức phạt đối với những hành vi vi phạm quy định phòng chống dịch COVID-19, mức phạt cao nhất là 20 triệu đồng hoặc có thể bị xử lý hình sự. Có thể thấy rằng, những khuôn khổ được đưa ra cùng với những hình thức xử lý vi phạm phù hợp với pháp luật và yêu cầu chống dịch đã tạo nên thói quen tốt cho người dân trong nước để đối phó với tình hình dịch bệnh. Trên thực tế, việc thi hành của người dân luôn được theo sát chặt chẽ, và đa số người dân luôn tuân thủ đúng quy định.

Đồng thời, với mục tiêu vì sức khỏe, tính mạng nhân dân, Việt Nam đã dành ưu tiên cao nhất cho quyền con người, đặc biệt “quyền được sống”, trong đó quan tâm đầy đủ đến các cộng đồng thiểu số thông qua những biện pháp rất nhân văn. Chính phủ đã cung cấp nhiều chuyến bay để đưa người Việt ở nước ngoài về Tổ quốc. Người lao động trong nước được quan tâm sâu sắc thông qua những chính sách hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp vượt khó, cắt giảm nhiều lệ phí để tạo điều kiện cho người lao động. Nhiều biện pháp hỗ trợ được ban hành và nhanh chóng đi vào cuộc sống, trong đó có những sáng kiến hay, cử chỉ đẹp như máy ATM phát gạo từ thiện dành cho người nghèo được đặt ở nhiều nơi.

Ba là, mọi thông tin liên quan đến dịch COVID-19 và hoạt độngphòng, chống dịch của chính phủ được công bố đầy đủ, cập nhật, rõ ràng, dễ truy cập và dễ hiểu đối với mọi người dân – (Transparent).

Một trong những yếu tố quan trọng dẫn tới sự thành công trong công tác phòng chống dịch bệnh COVID-19 của Việt Nam chính là việc thông báo đầy đủ, chính xác về hoạt động phòng, chống và số ca nhiễm, số ca điều trị khỏi. BBC từng đưa tin các số liệu về COVID-19 do chính phủ Việt Nam công bố thấp tới mức nhiều người nghi ngờ liệu các con số này có chính xác hay không. Thậm chí, Reuters còn đi thăm dò các nhà tang lễ để xem có số người chết tăng vọt hay không. Tuy nhiên, thực tiễn đã chứng minh sự minh bạch, chính xác trong thông tin mà Việt Nam đưa ra. Giới ngoại giao và y tế quốc tế đều nhất trí cho rằng, không có lý do gì để đặt nghi vấn về vấn đề này(9).  Theo Huong Le Thu, nhà phân tích tại Viện Chính sách Chiến lược Australia, các tổ chức quốc tế, các nhà dịch tễ học nước ngoài, thậm chí Đại sứ Australia tại Hà Nội đều tin tưởng vào các số liệu của Việt Nam. Rõ ràng Việt Nam đã đề cao tính minh bạch trong cung cấp thông tin đến người dân(10).

Về mặt nhận thức, Việt Nam nhận thức rõ yếu tố quan trọng trong phòng chống dịch là thông tin phải minh bạch để người dân không hoang mang. Bưng bít thông tin sẽ dẫn tới kém hiệu quả trong phòng chống dịch.Về mặt triển khai, ngay từ đầu, chính phủ Việt Nam đã truyền đạt rộng rãi tới người dân về mức độ nghiêm trọng của dịch bệnh, khẳng định rõ: COVID-19 không chỉ là một bệnh cúm, mà là một căn bệnh cực kỳ nghiêm trọng, vì vậy mọi người được khuyên không nên tự gây nguy hiểm cho bản thân hoặc người khác.

Không chỉ thường xuyên cập nhật số liệu, tình hình dịch bệnh cho người dân và quốc tế, Việt Nam còn sáng tạo các phương thức truyền thông mới. Hàng ngày, các bộ phận khác nhau của chính phủ Việt Nam - từ lãnh đạo đến Bộ Y tế, Bộ Thông tin và Truyền thông và chính quyền địa phương - đều nhắn tin cho công dân. Chi tiết về các triệu chứng nhiễm bệnh và biện pháp bảo vệ được truyền đạt qua văn bản đến điện thoại di động trên cả nước. Chính phủ cũng đã hợp tác với các dịch vụ mạng xã hội như Zalo, Facebook… để cập nhật thông tin. Các thành phố treo áp phích nhắc nhở người dân nâng cao ý thức trong việc ngăn chặn sự lây lan của virus.

Bốn là, Việt Nam có những quyết sách nhanh chóng, kịp thời và quyết liệt - (responsive).

Thành công của Việt Nam trong việc đối phó với đại dịch được cho là nhờ một số biện pháp quyết đoán. Ngay từ đầu và suốt trong thời gian chống dịch, Việt Nam đã có những chỉ thị, quy định kịp thời từ Trung ương đến địa phương với nhiều biện pháp toàn diện và triệt để. Ban Bí thư Trung ương Đảng đã có Công văn số 79-CV/TW gửi các tỉnh ủy, thành ủy; các ban, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương; các đảng ủy đơn vị sự nghiệp Trung ương về việc phòng, chống dịch bệnh COVID-19. Căn cứ tình hình thực tế, Chính phủ Việt Nam đưa ra những chỉ thị, nghị định, mang tính hành động nghiêm khắc, quyết liệt. Ngày 28/1/2020, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ký ban hành Chỉ thị số 05/CT-TTg về phòng, chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do virus SARS-CoV-2 gây ra; ngày 16/3/2020, yêu cầu tất cả mọi người thực hiện nghiêm việc đeo khẩu trang tại các nơi công cộng có tập trung đông người; ngày 18/3/2020, Thủ tướng quyết định tạm dừng cấp thị thực cho người nước ngoài nhập cảnh vào Việt Nam, hạn chế các chuyến bay từ vùng dịch; ngày 31/3/2020, Thủ tướng ban hành Chỉ thị số 16 về việc thực hiện các biện pháp cấp bách nhằm phòng, chống dịch COVID-19, theo đó cả nước thực hiện cách ly toàn xã hội trong vòng 15 ngày. Ngày 15/4, khi lệnh cách ly kết thúc, Thủ tướng tiếp tục yêu cầu 28 tỉnh, thành phố có “nguy cơ cao” và “nguy cơ” tiếp tục cách ly xã hội ít nhất đến hết ngày 22/4/2020. Sau ngày 22/4, số ca nhiễm COVID-19 ở Việt Nam liên tục không tăng, lệnh dỡ bỏ cách ly được thông qua. Tuy nhiên mọi tình hình hoạt động vẫn đặt trong kiểm soát, ngày 24/4/2020, Thủ tướng ban hành Chỉ thị 19/CT-TTg về việc tiếp tục thực hiện phòng, chống dịch COVID-19 trong tình hình mới. Đất nước chuyển sang giai đoạn chống dịch dài hơi hơn, nới lỏng các biện pháp hạn chế, từng bước khôi phục hoạt động kinh tế xã hội(11). Đồng thời, để an dân, đẩy mạnh tinh thần chống đại dịch, cũng như đẩy lùi những khó khăn về mặt kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước ta đã ban hành những chính sách, nghị định về hỗ trợ, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của đời sống nhân dân và phát triển doanh nghiệp; Chính phủ ban hành Nghị quyết 42/NQ-CP về các biện pháp hỗ trợ người dân gặp khó khăn do đại dịch COVID-19.

Nếu như so với nhiều quốc gia khác, khi dịch bệnh bùng phát mới ban hành các chỉ thị, quy định về phòng chống dịch bệnh thì Đảngvà Nhà nước Việt Nam đã hành động quyết liệt ngay từ đầu cùng những biện pháp mang tính bắt buộc thi hành. Việc ban hành nhanh chóng, kịp thời và đúng đắn những quy định mang tính pháp luật đã đáp ứng được mức độ phát triển của dịch bệnh tại Việt Nam. Ngoài việc đáp ứng quy định về phòng, chống dịch bệnh lây lan, Việt Nam còn ban hành những chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện để người dân yên tâm chống dịch, điều này cũng tạo đà cho việc đẩy lùi dịch bệnh trên phạm vi cả nước, là biện pháp trấn an tinh thần cho người dân và doanh nghiệp. Ở một số quốc gia kiểm soát dịch tốt cũng nhờ ban hành triệt để các quy định pháp luật về phòng chống dịch bệnh, như Ấn Độ, Thụy Sĩ, Hàn Quốc,… Tuy nhiên, việc có những chính sách hỗ trợ, đáp ứng yêu cầu thực tiễn thì vẫn chưa kịp thời và rõ ràng như Việt Nam.

Năm là, Việt Nam đã tạo ra được sự đồng thuận trong xã hội - (concensus).

Sự đồng thuận xã hội được hiểu là sự ủng hộ, đồng lòng của toàn thể xã hội đối với các hành động của chính phủ. Sự đồng thuận xã hội được tiếp cận theo ít nhất hai hướng: 1) Sự đồng thuận trong nội bộ các cơ quan, ban ngành; 2) Sự ủng hộ của người dân đối với các hành động của chính phủ. Thứ nhất, giữa các bộ, ban ngành của Việt Nam đã có sự phân công, phối hợp rõ trong phòng chống dịch. Thực hiện các chỉ thị Ban Bí thư và của Thủ tướng Chính phủ về phòng, chống dịch bệnh COVID-19, các bộ, ban ngành, các địa phương đã phối hợp chặt chẽ cùng Bộ Y tế(12), thực hiện nghiêm túc, trách nhiệm các chức năng nhiệm vụ của ngành với tinh thần đồng thuận cao. Thứ hai, sự đồng thuận xã hội được thể hiện ở sự ủng hộ của người dân đối với các chỉ đạo của chính phủ. Cụ thể là việc người dân chấp hành nghiêm túc các chỉ thị của Thủ tướng, trong đó có những biện pháp rất mới, nghiêm khắc như giãn cách xã hội, cách ly khu vực… Đồng thời, sự ủng hộ, niềm tin của nhân dân còn thể hiện rõ nét qua việc quyên góp tiền, hiện vật để chung tay cùng đất nước đẩy lùi dịch bệnh. Theo thống kê mới nhất của Công ty phân tích dữ liệu và nghiên cứu thị trường uy tín YouGov (có trụ sở tại Anh), 97% người Việt Nam tin tưởng chính phủ đang xử lý dịch COVID-19 tốt và 90% tin tưởng vào những phương tiện truyền thông nước nhà đăng tải về dịch bệnh(13). Theo đó, Việt Nam dẫn đầu trong danh sách các nước mà YouGov tiến hành nghiên cứu. Các nghiên cứu, điều tra của nhiều tổ chức quốc tế trước đó cũng đều cho kết quả tương tự với việc Chính phủ Việt Nam luôn đạt được sự tín nhiệm cao của người dân.

Sáu là, Chính phủ Việt Nam đưa ra những quyết sách tạo sự công bằng và không loại trừ chủ thể nào - (equitable and inclusive).

Trong ứng phó với dịch bệnh, Việt Nam đã có cách tiếp cận công bằng với mọi đối tượng khác nhau trong xã hội, không phân biệt giai cấp, dân tộc, tôn giáo.

Các chỉ thị của Đảng và Chính phủ đều bảo đảm để mọi người dân đều được tiếp cận với các cơ sở, dịch vụ y tế và vật tư y tế, đặc biệt là khẩu trang, bảo hộ, cồn rửa tay sát khuẩn khi dịch bệnh xảy ra. Về việc điều trị, để bảo đảm việc tiếp cận điều trị cho tất cả mọi người, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định 219/QĐ-BYT bổ sung bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona (nCov) gây ra vào danh mục các bệnh truyền nhiễm nhóm A - là bệnh truyền nhiễm đặc biệt nguy hiểm theo quy định tại Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm năm 2007. Theo đó, những người mắc bệnh dịch này sẽ được khám và điều trị miễn phí. Trong bối cảnh ở nhiều quốc gia trên thế giới bệnh nhân phải tự chi trả mọi chi phí điều trị COVID-19, đây là nỗ lực đầy nhân văn của Chính phủ Việt Nam nhằm bảo đảm quyền được tiếp cận điều trị COVID-19 cho tất cả bệnh nhân.

Xét từ góc độ pháp lý, theo quy định của pháp luật Việt Nam, người bệnh được tôn trọng danh dự, bảo vệ sức khỏe trong khám bệnh, chữa bệnh. Người bệnh sẽ không bị kỳ thị, phân biệt đối xử, không bị phân biệt giàu nghèo, địa vị xã hội và được tôn trọng về tuổi tác, giới tính, dân tộc, tín ngưỡng. Luật Phòng, chống bệnh truyền nhiễm nêu rõ hành vi phân biệt đối xử và đưa hình ảnh, thông tin tiêu cực về người bệnh là hành vi bị nghiêm cấm(14).

Trên thực tế, xét về mức độ lây nhiễm COVID-19, mọi người đều như nhau. Tuy nhiên, xét về khả năng dễ mắc COVID-19 thì một số nhóm có thể phải chịu rủi ro nhiễm bệnh và nguy cơ tử vong cao hơn như: người cao tuổi, người có bệnh mãn tính (tim mạch, huyết áp, hen, tiểu đường...). Do vậy, nhóm đối tượng này được quan tâm bảo vệ và hỗ trợ để phòng ngừa y tế tốt hơn. Đồng thời, trên phương diện kinh tế - xã hội, với phương châm “không ai bị bỏ lại phía sau”, Đảng và Chính phủ Việt Nam cũng sớm có các giải pháp bảo đảm an sinh xã hội và giải quyết các khó khăn về kinh tế để hỗ trợ người dân cũng như các doanh nghiệp.

Bảy là, các quyết sách của chính phủ Việt Nam đã phát huy hiệu lực và đạt hiệu quả cao - (effective, efficient).

Quản trị tốt có nghĩa là các tiến trình và thể chế đem lại những kết quả đáp ứng các nhu cầu của xã hội trong khi chỉ tiêu tốn các nguồn lực ở mức tối thiểu(15). Ở đây có thể hiểu là phải đáp ứng đủ hai mặt về hiệu lực và hiệu quả.

Về mặt hiệu lực, trong thời gian qua, việc ban hành các khung pháp lý cơ bản có tính hiệu quả cao. Một số vấn đề phát sinh do thực tiễn mà COVID-19 đặt ra quá mới, nhưng đã được Đảng và Nhà nước xử lý triệt để. Có thể kể đến với Chỉ thị 16/CT-TTg, có một số điểm đã được nêu trong văn bản nhưng có một số thành phần hiểu sai và không thực hiện đúng theo Chỉ thị. Chính phủ đã ngay lập tức đưa ra Hướng dẫn thực hiện chỉ thị 16/CT-TTg bằng văn bản số 2601/VPCP-KGVS(16). Đồng thời, Chính phủ và chính quyền các cấp đã thi hành các biện pháp nghiêm khắc đối với những thành phần không thực hiện đúng theo các văn bản quy phạm pháp luật đã đưa ra. Quá trình điều tra, truy tố các đối tượng này đều được áp dụng theo thủ tục rút gọn để nhanh chóng đưa vụ án ra xét xử, nhằm kịp thời răn đe, giáo dục, nâng cao ý thức của người dân tự giác chấp hành quy định phòng, chống dịch COVID-19.

Về mặt hiệu quả, kết quả đạt được trong thời gian qua đã đáp ứng nhu cầu của xã hội trong việc sử dụng hợp lý và tiết kiệm nhất các nguồn lực. Cùng những biện pháp quyết liệt ngay từ khi dịch bùng phát, Việt Nam đã đạt được nhiều thành quả đáng kể. Đó là quốc gia có tỷ lệ nhiễm thấp và không có trường hợp tử vong, được các nước khen ngợi và đánh giá cao. Về cách thức, Việt Nam đã lựa chọn chiến lược chống COVID với chi phí thấp, tiết kiệm các nguồn lực. Thay vì xét nghiệm đại trà, Việt Nam tập trung phát hiện nhanh các ca nhiễm, khoanh vùng và tìm kiếm các trường hợp tiếp xúc với ca bệnh cho đến lớp thứ 4 (F4) để cách ly. Hơn nữa, đối với người dân, chi phí điều trị bệnh nhân nhiễm COVID-19 tại bệnh viện đều do bảo hiểm y tế chi trả. Người đi cách ly tập trung được miễn chi phí. Tại những khu vực bị phong tỏa, kinh phí từ ngân sách nhà nước giúp cung cấp thực phẩm miễn phí (Hà Nội) hoặc cấp tiền (40.000 đồng/người/ngày - Vĩnh Phúc)(17)...

Tám là, trong ứng phó với dịch COVID-19, trách nhiệm giải trình được thể hiện qua trách nhiệm trong nội bộ và trách nhiệm đối với xã hội - (accountable).

Thứ nhất, trách nhiệm trong nội bộ được nêu rõ trong các văn bản chỉ đạo của Ban Bí thư và Chính phủ. Chẳng hạn, chỉ thị 19/CT-TTg của Thủ tướng nêu rõ: “Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tiếp tục (...) đề cao kỷ luật, kỷ cương, trách nhiệm của người đứng đầu, thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch”(18). Theo đó, các cơ quan có trách nhiệm thực hiện nghiêm túc các chỉ đạo và chịu trách nhiệm trước Chính phủ, giải trình với Chính phủ, Thủ tướng các vấn đề trong quá trình phòng chống dịch bệnh. Trên thực tế, các bộ, ban, ngành Trung ương và chính quyền địa phương đã thực hiện rất tốt, nghiêm túc các chỉ đạo nêu trên, thể hiện rõ nét qua kết quả đạt được. Ngoài ra, trách nhiệm giải trình còn thể hiện ở cách thức xử lý các vi phạm của người đứng đầu các đơn vị trong quá trình chống dịch, tiêu biểu nhất là vụ việc điều tra và khởi tố Giám đốc Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Hà Nội do sai phạm trong quá trình mua hệ thống Real Time PCR tự động xét nghiệm COVID-19.

Thứ hai, trách nhiệm đối với xã hội được thể hiện thông qua trách nhiệm của bộ máy chính quyền đối với xã hội, cụ thể là trách nhiệm giải trình đối với người dân về các biện pháp được thực thi. Trên thực tế, trong thời gian phòng chống dịch, các biện pháp mà Chính phủ Việt Nam đưa ra đều có căn cứ vững chắc về pháp lý và yêu cầu của thực tiễn, được nhân dân đồng tình ủng hộ. Một số biện pháp mới, chưa từng có (như giãn cách xã hội, cách ly khu vực…) đều được giải thích cặn kẽ, đầy đủ, do đó được người dân tuân thủ nghiêm túc.

NHỮNG ĐẶC ĐIỂM RIÊNG CÓ CỦA VIỆT NAM

Bên cạnh việc đảm bảo các tiêu chí quản trị quốc gia tốt một cách linh hoạt, phù hợp đặc thù đất nước, Việt Nam có một số đặc thù, đó là sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống dân tộc và kinh nghiệm vượt khó khăn, thách thức. Đây là những đặc điểm giúp cho việc ứng dụng các tiêu chí quản trị quốc gia hiệu quả hơn, phù hợp và hài hòa hơn.

Về sự lãnh đạo của Đảng, từ khi ra đời, Đảng ta luôn kiên định mục tiêu và lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, đặt lợi ích của nhân dân làm mục tiêu tối thượng. Trong những lúc cam go, nghặt nghèo nhất, chính vì giải quyết phù hợp mối quan hệ giữa lợi ích giai cấp và lợi ích dân tộc nên Đảng đã tập hợp được đông đảo sự ủng hộ của các tầng lớp nhân dân. Trong đại dịch COVID-19, với mục tiêu “tất cả vì sức khỏe, tính mạng nhân dân”, công cuộc phòng, chống đại dịch đã được sự ủng hộ, đồng tâm nhất trí của đồng bào cả ở trong và ngoài nước. Trên chặng đường 90 năm qua, Đảng cũng đã chứng tỏ bản lĩnh và khả năng lãnh đạo cách mạng Việt Nam khi đương đầu với những thách thức to lớn. Với nhận định sắc bén về thời cơ, sự chuẩn bị lực lượng kỹ càng, chỉ với 5.000 đảng viên, Đảng đã lãnh đạo toàn dân tiến hành Cách mạng Tháng Tám long trời lở đất, đập tan chế độ thực dân phong kiến, thành lập nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á. Cũng với bản lĩnh và khả năng lãnh đạo tài tình đó, Đảng đã lãnh đạo cả dân tộc đi qua hai cuộc kháng chiến thần thánh, giành chiến thắng trước những đối thủ mạnh mẽ, hung bạo nhất. Trong xây dựng đất nước, trước những thách thức to lớn cả ở trong nước và trên thế giới vào cuối thập kỷ 80 đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX, Đảng một lần nữa chứng tỏ bản lĩnh và khả năng lãnh đạo của mình, tiến hành công cuộc đổi mới, làm nên một Việt Nam “chưa bao giờ có cơ đồ, tiềm năng, uy tín và vị thế như ngày nay”. Kiên định mục tiêu và lý tưởng vì nhân dân, với bản lĩnh và khả năng lãnh đạo đã được chứng minh trong những giai đoạn lịch sử trọng đại của dân tộc, Đảng đã dành trọn niềm tin của nhân dân. Bởi vậy, khi Đảng cất lời kêu gọi “chống dịch như chống giặc”, toàn thể nhân dân đã tin tưởng tuyệt đối, nghiêm chỉnh chấp hành các chủ trương, đường lối, biện pháp mà Chính phủ đề ra.

Một đặc trưng khác là truyền thống rất đặc thù của dân tộc Việt Nam: yêu nước, nhân văn và đoàn kết một lòng khi đất nước gặp khó khăn, thách thức. Dân tộc nào cũng yêu nước, song với đặc điểm hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, kiên trì đấu tranh vì độc lập tự do, giữ gìn bản sắc dân tộc, lòng yêu nước của người Việt Nam là đặc điểm rất nổi trội, nó gắn liền với tinh thần đoàn kết, “mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng, tinh thần ấy lại sôi nổi, kết thành làn sóng…”. Lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và niềm tin với Đảng đã tạo thành sự đồng tâm nhất trí từ trên xuống dưới, cả nước chung tay chống dịch, từ lãnh đạo cao nhất đến trẻ em, cụ già. Đồng thời, tính nhân văn, nhân nghĩa, sự tử tế được bộc lộ và phát huy cao độ. Những nghĩa cử đùm bọc lẫn nhau vừa tạo ra sức chống chịu dẻo dai, vừa là nguồn động viên to lớn đối với toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, tạo ra niềm tin to lớn đối với đồng bào ở xa Tổ quốc cũng như bạn bè quốc tế.

Với vị trí chiến lược ở khu vực, trong lịch sử của mình, Việt Nam luôn đứng trước các thách thức to lớn, cả địch họa lẫn thiên tai. Đặc điểm địa-chiến lược đó cũng trui rèn cho dân tộc Việt Nam khả năng chống chịu, vượt mọi khó khăn, thách thức để tồn tại và phát triển. Trong lĩnh vực phòng chống dịch bệnh, Việt Nam cũng đã có kinh nghiệm xử lý thành công bệnh dịch chết người SAR năm 2003 cũng như các bệnh dịch như H1N1, MERS-CoV… Đặc điểm này giúp Việt Nam có được sự ứng biến nhanh chóng, khả năng chịu đựng bền vững, sự vận hành hệ thống quản trị một cách linh hoạt và hiệu quả.

PHÁT HUY TRONG CÔNG CUỘC PHÁT TRIỂN

Thành công trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19 một mặt khẳng định những giá trị trường tồn mang tính đặc thù của cách mạng Việt Nam, mặt khác cũng khẳng định khả năng quản trị quốc gia của Đảng ta theo đúng các tiêu chí của Liên hợp quốc, được vận dụng phù hợp với đặc thù đất nước. Đây là những giá trị cần được phát huy trong giai đoạn phục hồi kinh tế hậu đại dịch, đồng thời vẫn phải phòng ngừa cho làn sóng tái nhiễm như đã xảy ra ở một số nước.

Trước hết, việc lãnh đạo toàn dân vượt qua thách thức toàn cầu chưa từng có đã một lần nữa khẳng định vai trò lãnh đạo không thể thay thế của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Trước nay có ý kiến cho rằng, Đảng đã hoàn thành sứ mệnh trong các cuộc kháng chiến giành độc lập, thống nhất đất nước, rằng Đảng không có khả năng lãnh đạo phát triển kinh tế. Tuy nhiên, thành tựu của hơn 35 năm đổi mới và thành công chống đại dịch vừa qua khẳng định tầm nhìn, khả năng lãnh đạo, quản trị quốc gia của Đảng, chèo lái đất nước đi qua khủng hoảng tài chính 1997, khủng hoảng kinh tế - tài chính 2008 và thách thức an ninh phi truyền thống chưa từng có là đại dịch COVID-19.

Với bản lĩnh, tầm nhìn và khả năng lãnh đạo được chứng minh bởi thực tiễn, và đặc biệt là với mục tiêu bất biến tất cả vì lợi ích của nhân dân, Đảng đã giành trọn niềm tin của nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trên nền tảng thành công hôm nay, nhân dân hoàn toàn ủng hộ và tin tưởng vào việc hướng tới mục tiêu 100 năm của Đảng và 100 năm nước Việt Nam mới. Đây là ưu thế to lớn của Đảng ta và cũng là của đất nước ta, bởi lẽ đại dịch COVID-19 đã cho thấy nhiều xã hội bị đứt gãy, niềm tin bị đổ vỡ, mối quan hệ giữa lãnh đạo và nhân dân bị đổ vỡ.

Với niềm tin và mục tiêu chung của toàn dân tộc, Đảng có điều kiện thuận lợi hơn trong công cuộc huy động sức mạnh đại đoàn kết. Các thành tựu của Đảng và đất nước trong 90 năm qua, gần đây nhất là thành công trong phòng, chống đại dịch COVID-19, đã cho thấy tầm vóc của sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. Đặc biệt, trong cuộc chiến chống COVID-19, đồng bào ở xa Tổ quốc cũng một lòng hướng về đất nước, ủng hộ, tự hào trước thành công của Việt Nam, trước sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Chính phủ.

Đồng thời, những nỗ lực của Việt Nam đã giành được sự công nhận, đánh giá cao của thế giới. Đặt qua một bên những lời khen ngợi như “kỳ tích”, “không thể ngờ”, “bài học quý báu”, “hình mẫu”, chiến thắng đại dịch COVID-19 mang lại cơ hội to lớn về quảng bá hình ảnh Việt Nam, nâng cao uy tín và vị thế đất nước. Thế giới nhìn nhận Việt Nam với một thể chế ổn định, quản trị tốt, một nền kinh tế có sức chịu đựng và ứng biến linh hoạt, một nền văn hóa nhân văn, một đất nước tươi đẹp, an toàn, một dân tộc tử tế. Đại dịch COVID-19 có thể làm đứt gãy các chuỗi giá trị toàn cầu, định hình lại toàn cầu hóa và liên kết kinh tế. song những giá trị nói trên là bất biến và bất cứ đối tác nào cũng mong muốn làm bạn, nhà đầu tư nào cũng cần đến để làm ăn lâu dài.

Đại dịch COVID-19 đã gây ra nhiều hệ lụy cho mọi mặt đời sống nhân loại. Đáng chú ý, việc ứng phó với đại dịch đã cho thấy khả năng quản trị quốc gia của nhiều nước trên thế giới. Lâu nay, các thế lực thù địch không ngừng xuyên tạc về bản chất của chế độ ta, tính hiệu lực, hiệu quả của Đảng và Nhà nước ta. Với thành công của Việt Nam trong công cuộc phòng, chống đại dịch COVID-19, chúng ta đã chứng minh hùng hồn tính ưu việt của chế độ, khả năng quản trị quốc gia tốt, bản lĩnh và khả năng ứng phó với thách thức của Đảng và Nhà nước ta. Soi chiếu với các tiêu chí quản trị quốc gia tốt của Liên Hợp Quốc và nhiều tổ chức quốc tế khác, trong đại dịch COVID-19, Việt Nam không những đáp ứng đầy đủ, mà còn vận dụng một cách linh hoạt, hiệu quả, phù hợp với đặc thù đất nước và thực tiễn dịch bệnh. Đặc biệt, những đặc điểm riêng có của Việt Nam gồm sự lãnh đạo của Đảng, truyền thống dân tộc và kinh nghiệm, khả năng ứng phó thách thức là những yếu tố mang tính then chốt để Việt Nam vượt qua thách thức toàn cầu chưa từng có. Thành công trong cuộc chiến phòng chống đại dịch COVID-19 đã chứng tỏ cả về lý luận và thực tiễn rằng toàn Đảng, toàn dân ta đang đi đúng hướng trong việc xây dựng chế độ XHCN mang đặc điểm Việt Nam./.

________________________

(1) Dẫn theo lời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng.

(2) Đào Minh Hồng - Lê Hồng Hiệp (chủ biên): Sổ tay Thuật ngữ Quan hệ Quốc tế, Khoa QHQT - Đại học KHXH&NV TP. Hồ Chí Minh, TP. HCM, 2013.

(3) Huther, Jeff, and Anwar Shah, “A Simple Measure of Good Governance”, Policy Research Working Paper 1894 (1996), World Bank, Washington, D.C (http://documents.worldbank.org/curated/en/673221468766535925/128528322_20041117142109/additional/multi-page.pdf).

(4) UNESCAP, What is Good Governance?, https://www.unescap.org/sites/default/files/good-governance.pdf

(5) Mai Linh: Chống dịch COVID-19 của Việt Nam qua con mắt người nước ngoài, Tạp chí Quốc phòng Toàn dân, ngày 6/4/2020 (http://m.tapchiqptd.vn/vi/tin-tuc-thoi-su/chong-dich-covid-19-cua-viet-nam-qua-con-mat-nguoi-nuoc-ngoai-15314.html, truy cập ngày 19/5/2020).

(6) Thành công của Việt Nam và tinh thần đoàn kết cùng chống dịch COVID-19, Báo Nhân dân, ngày 12/05/2020 (https://www.nhandan.com.vn/thegioi/tin-tuc/item/44444502-thanh-cong-cua-viet-nam-va-tinh-than-doan-ket-cung-chong-dich-covid-19.html, truy cập ngày 19/05/2020).

(7) Việt Nam tạo kỳ tích về phòng, chống dịch COVID-19, ngày 14/5/2020 (https://www.nhandan.com.vn/thegioi/tin-tuc/item/44456502-viet-nam-tao-ky-tich-ve-phong-chong-dich-covid-19.html, truy cập ngày 14/5/2020).

(8) Lê Hoàng, Thanh Loan: Phạt người ra đường không đúng nội dung cho phép là cần thiết, có căn cứ pháp luật, Luật sư Việt Nam, ngày 4/4/2020 (https://lsvn.vn/truong-hop-nao-bi-xu-phat-khi-ra-duong-khong-dung-noi-dung-cho-phep-trong-mua-dich-covid-19.html, truy cập ngày 15/5/2020).

(9) Thành Đạt: Báo Anh: Việt Nam chống dịch thành công nhờ hành động quyết liệt từ sớm, Dân trí, ngày 17/5/2020 (https://dantri.com.vn/the-gioi/bao-anh-viet-nam-chong-dich-thanh-cong-nho-hanh-dong-quyet-liet-tu-som-20200516180225761.htm, truy cập ngày 17/5/2020).

(10) Thành Đạt: Báo Australia: Nhiều nước “mơ ước” thành công chống dịch của Việt Nam, Dân trí, ngày 14/5/2020 (https://dantri.com.vn/the-gioi/bao-australia-nhieu-nuoc-mo-uoc-thanh-cong-chong-dich-cua-viet-nam-20200513154632391.htm?fbclid=IwAR2e8HlNaQMhbvVaWP5ezjaPrcLVazo-EbHRty_NybIBcJifLl26_FAh9ks, truy cập ngày 14/5/2020).

(11) Bộ Y tế: Cuộc chiến chống dịch covid-19 Việt Nam: 100 ngày nhìn lại, ngày 4/5/2020 (http://bachmai.gov.vn, truy cập ngày 19/5/2020).

(12) Lê Đức Thuận: Cả nước cùng chung sức, đồng lòng chống dịch COVID-19 (http://special.vietnamplus.vn/ca-nuoc-chong-covid19, truy cập ngày 15/5/2020).

(13) https://tuoitre.vn/viet-nam-dung-dau-ti-le-dan-tin-tuong-chinh-phu-va-bao-chi-trong-chong-dich-covid-19-20200521170635029.htm

(14) Trần Linh Huân: Bảo vệ quyền lợi của người bị nhiễm COVID-19 theo quy định của pháp luật Việt Nam, Lập pháp, ngày 6/5/2020 (http://lapphap.vn/Pages/tintuc/tinchitiet.aspx?tintucid=210488, truy cập ngày 15/5/2020).

(15) Vũ Công Giao (2017): Một số vấn đề lý luận về quản trị tốt, Tạp chí tổ chức nhà nước (https://tcnn.vn/news/detail/36119/Mot_so_van_de_ly_luan_ve_quan_tri_totall.html).

(16) Hướng dẫn thực hiện Chỉ thị số 16 của Thủ tướng về phòng, chống dịch bệnh COVID-19, truy cập ngày 19/5/2020 tại http://baoquangninh.com.vn/chinh-tri/202004/huong-dan-thuc-hien-chi-thi-16-cua-thu-tuong-ve-phong-chong-dich-covid-19-2477496/.

(17) Kim Thoa: Việt Nam miễn phí điều trị COVID, các nước ra sao?, truy cập 19/5/2020 tạihttps://tuoitre.vn/viet-nam-mien-phi-dieu-tri-covid-19-cac-nuoc-ra-sao-20200311075720642.htm.

(18) Báo chính phủ: Thủ tướng chỉ thị tiếp tục các biện pháp phòng, chống dịch COVID-19 trong tình hình mới, ngày 25/4/2020 (http://baochinhphu.vn/Tin-noi-bat/Thu-tuong-chi-thi-tiep-tuc-cac-bien-phap-phong-chong-dich-COVID19-trong-tinh-hinh-moi/394017.vgp, truy cập ngày 15/5/2020).

TS. Lê Hải Bình
Phó Trưởng ban chuyên trách
Ban Chỉ đạo Công tác thông tin đối ngoại Trung ương

Tập trung cao nhất cho phòng, chống dịch COVID-19, triển khai hiệu quả chiến lược vaccine... là nội dung quan trọng tại phiên họp Chính phủ tháng 6 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6. (Ảnh: TTXVN)

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 75/NQ-CP về phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6 năm 2021 và Hội nghị trực tuyến Chính phủ với địa phương.

Tập trung cao nhất cho phòng, chống dịch COVID-19, triển khai hiệu quả chiến lược vaccine; tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô; kịp thời hỗ trợ người lao động gặp khó khăn do dịch COVID-19; giải quyết ngay những vướng mắc, bất cập đối với doanh nghiệp; 11 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm đối với các địa phương... là những nội dung quan trọng tại phiên họp và hội nghị trực tuyến trên.

Nghị quyết nêu rõ trong 6 tháng cuối năm 2021, tình hình kinh tế thế giới dự báo tiếp tục xu hướng phục hồi nhưng còn nhiều rủi ro, thách thức. Dịch COVID-19 với biến thể mới của virus còn diễn biến phức tạp, khó lường. Nền kinh tế Việt Nam tiếp tục có những thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen nhưng khó khăn, thách thức nhiều hơn; dịch COVID-19 tiếp tục diễn biến phức tạp ở một số địa phương, trong đó có Thành phố Hồ Chí Minh và một số khu vực kinh tế trọng điểm.

Nhiệm vụ đặt ra cho 6 tháng cuối năm 2021 rất nặng nề, đòi hỏi sự chung sức, đồng lòng và nỗ lực phấn đấu vượt bậc của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cùng vượt qua khó khăn, thách thức để thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội năm 2021.

Chính phủ thống nhất chưa điều chỉnh mục tiêu, chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội năm 2021 đã đề ra và yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tập trung thực hiện trên cơ sở các quan điểm chỉ đạo, điều hành nêu tại Nghị quyết số 63/NQ-CP ngày 29/6/2021 và các Nghị quyết của Chính phủ, trong đó kiên quyết, kiên trì thực hiện thành công “mục tiêu kép”; tập trung, ưu tiên nguồn lực cho phòng, chống dịch COVID-19 trên cơ sở kết hợp linh hoạt, sáng tạo, hài hòa, hiệu quả giữa phòng, chống dịch và phát triển kinh tế - xã hội; căn cứ tình hình thực tiễn từng địa bàn để lựa chọn ưu tiên công tác phòng, chống dịch hoặc phát triển kinh tế - xã hội hoặc kết hợp giữa phòng, chống dịch và phát triển kinh tế - xã hội; Thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh, thành phố phía Nam, nhất là vùng kinh tế trọng điểm phía Nam trong lúc này phải đặc biệt ưu tiên cho chống dịch COVID-19.

Chính phủ yêu cầu các thành viên Chính phủ, thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương bám sát và triển khai quyết liệt, kịp thời những nhiệm vụ, giải pháp đã đề ra tại các Nghị quyết của Trung ương, Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ, nêu cao tinh thần trách nhiệm trước Đảng, Nhà nước và nhân dân, không để công việc trì trệ; chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong chỉ đạo, điều hành nhưng luôn bám sát thực tiễn, nhận diện đúng tình hình để đưa ra quyết sách kịp thời, chính xác, đạt hiệu quả cao nhất.

TẬP TRUNG CAO NHẤT PHÒNG, CHỐNG DỊCH COVID-19, TRIỂN KHAI HIỆU QUẢ CHIẾN LƯỢC VACCINE

Trong đó, Chính phủ yêu cầu Bộ Y tế và các bộ, ngành, địa phương tiếp tục thực hiện nghiêm phương châm “5K + vaccine” và tăng cường ứng dụng công nghệ trong kiểm soát dịch bệnh với cách làm “phòng ngừa tích cực, phát hiện sớm, cách ly nhanh, điều trị hiệu quả, xử lý dứt điểm, nhanh chóng ổn định tình hình".

Tập trung xây dựng, triển khai chiến lược vaccine phòng COVID-19 trong ngắn, trung hạn và dài hạn; mua vaccine nhanh nhất, nhiều nhất có thể, bảo đảm chất lượng vaccine; đa dạng hóa nguồn cung gắn với cơ chế kiểm soát phù hợp. Thúc đẩy chuyển giao công nghệ và sản xuất vaccine trong nước nhanh nhất, sớm nhất; triển khai chiến dịch tiêm chủng vaccine toàn quốc an toàn, hiệu quả để sớm đạt miễn dịch cộng đồng; ưu tiên tiêm vaccine cho các đối tượng theo quy định.

Bộ Y tế hướng dẫn các phương thức, điều kiện, tiêu chuẩn, tiêu chí cách ly phù hợp như: Quy trình cách ly tại nhà đối với F1, việc tự xét nghiệm; chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao, các bộ, cơ quan liên quan xây dựng phương án nới lỏng các biện pháp hạn chế đi lại, mở cửa nền kinh tế với lộ trình phù hợp; có chính sách, giải pháp thiết thực hỗ trợ, động viên các lực lượng tuyến đầu chống dịch.

TIẾP TỤC GIỮ VỮNG ỔN ĐỊNH KINH TẾ VĨ MÔ

Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ tiếp thu đầy đủ kết luận của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tại Phiên họp thứ 57 và ý kiến thảo luận của các thành viên Chính phủ tại Phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2021, tập trung triển khai các nhiệm vụ sau:

Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Công Thương, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, các cơ quan, địa phương liên quan phát huy hiệu quả cơ chế phối hợp điều hành kinh tế vĩ mô; theo dõi sát tình hình để cập nhật các kịch bản tăng trưởng, tiếp tục giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế; tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để giải ngân vốn đầu tư công theo Nghị quyết số 63/NQ-CP năm 2021 của Chính phủ. Hỗ trợ, hướng dẫn các địa phương lập, thẩm định quy hoạch tỉnh; sớm trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quy hoạch tổng thể, quy hoạch quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh theo quy định.

Tap trung phong chong dich COVID-19, giu vung on dinh kinh te vi mo hinh anh 2Quang cảnh phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6. (Ảnh: TTXVN)

Bộ Tài chính chỉ đạo, hướng dẫn các địa phương tăng cường các biện pháp siết chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính-ngân sách nhà nước, tiết giảm tối đa chi thường xuyên. Cập nhật thông tin, khẩn trương hoàn thiện Báo cáo đánh giá kết quả thực hiện ngân sách nhà nước 6 tháng đầu năm và các giải pháp trong 6 tháng cuối năm 2021.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam điều hành chủ động, linh hoạt chính sách tiền tệ, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác để kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô; trình cấp có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện Đề án cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021-2025; xây dựng các kịch bản xử lý nợ xấu đến cuối năm 2021 và năm 2022; điều hành tăng trưởng tín dụng hợp lý, tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực ưu tiên; đơn giản hóa quy trình, thủ tục, hồ sơ nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận vốn vay.

Bộ Công Thương tập trung chỉ đạo bảo đảm cân đối cung cầu hàng hóa thiết yếu, ổn định giá cả, thị trường; có giải pháp tích cực để kiểm soát nhập siêu, hướng tới cán cân thương mại hài hòa, bền vững. Triển khai các chương trình kích cầu tiêu dùng nội địa; tổng kết bài học kinh nghiệm trong việc tiêu thụ nông sản nội địa thời gian qua, xây dựng kịch bản, phương án sẵn sàng cho việc tiêu thụ sản phẩm nông sản có sản lượng, quy mô và giá trị lớn của các địa phương.

XÂY DỰNG VÀ HOÀN THIỆN THỂ CHẾ; THÁO GỠ KHÓ KHĂN CHO SẢN XUẤT, KINH DOANH

Về xây dựng và hoàn thiện thể chế; tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh; sắp xếp tổ chức bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của cơ quan hành chính nhà nước, Chính phủ yêu cầu Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương liên quan, thường xuyên rà soát, kịp thời tham mưu tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách, quy định pháp luật để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh; đối với các vướng mắc tại Nghị định, yêu cầu các bộ, cơ quan, địa phương khẩn trương rà soát, báo cáo Thủ tướng Chính phủ trước ngày 20/7/2021.

Bộ Giao thông Vận tải chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính, cơ quan, địa phương liên quan thành lập Tổ công tác để rà soát, tháo gỡ ngay các khó khăn về chi phí logistics và tình trạng thiếu container; tiếp tục cắt giảm, không để tăng các loại phí, chi phí đối với vận chuyển hàng hóa xuất, nhập khẩu.

Bộ Nội vụ tập trung hoàn thiện, trình Quốc hội thông qua Đề án cơ cấu tổ chức Chính phủ nhiệm kỳ 2021-2026; phối hợp với các bộ, cơ quan, địa phương rà soát, sắp xếp, kiện toàn tổ chức bộ máy và đơn vị hành chính các cấp; sửa đổi, bổ sung và điều chỉnh hợp lý chức năng, nhiệm vụ giữa các bộ, cơ quan ngang bộ, tránh mâu thuẫn, chồng chéo, giao thoa, không rõ trách nhiệm hoặc bỏ sót việc. Đề xuất giải pháp đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, cá thể hóa trách nhiệm, có cơ chế tăng cường thanh tra, kiểm tra và kiểm soát quyền lực.

Đẩy nhanh tiến độ, hoàn thành dự án “Hoàn thiện, hiện đại hóa hồ sơ, bản đồ địa giới hành chính và xây dựng sơ cở dữ liệu về địa giới hành chính” theo Quyết định số 513/QĐ-TTg ngày 2/5/2012 và các Quyết định liên quan của Thủ tướng Chính phủ, bảo đảm tiến độ, chất lượng.

Ngoài ra, Nghị quyết cũng đề cập đến các nội dung khác như: đề xuất các giải pháp hiệu quả để thu hút đầu tư phát triển công nghiệp; khẩn trương lập, phê duyệt các quy hoạch quốc gia; triển khai kịp thời, hiệu quả hỗ trợ người lao động gặp khó khăn do dịch COVID-19; đẩy mạnh công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo và phòng, chống tham nhũng; 11 nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm đối với các địa phương…/.

TTXVN

Ngày 25-8, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh đã tổ chức tọa đàm khoa học “Đồng chí Võ Văn Tần với cách mạng Việt Nam” nhân kỷ niệm 125 năm ngày sinh (1891-2016) và 75 năm ngày mất của đồng chí Văn Tần.

Đồng chí Võ Văn Tần sinh năm 1891 tại làng Đức Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Chợ Lớn (nay là tỉnh Long An) trong một gia đình nghèo, giàu truyền thống yêu nước. Thực hiện chủ trương của Liên tỉnh ủy Chợ  Lớn – Gia Định, ngày 4-6-1930, đồng chí Võ Văn Tần cùng các đồng chí trong Quận ủy Đức Hòa tổ chức một cuộc biểu tình lớn của nông dân chống sưu cao thuế nặng, chống đàn áp. Tuy không đạt được thắng lợi trọn vẹn, nhưng cuộc biểu tình đã như ngọn gió thổi bùng những đốm lửa đang cháy trong lòng người dân Đức Hòa thành một phong trào yêu nước mạnh mẽ. Vì sự kiện này, đồng chí bị kết án tử hình vắng mặt. Những năm  sau đó, đồng chí Võ Văn Tần được Đảng giao cho nhiều trọng trách. Năm 1931, đồng chí được cử làm Bí thư Ban Chấp hành tỉnh đảng bộ Chợ Lớn; năm 1932 được điều động sang làm Bí thư Tỉnh ủy Gia Định. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 3-1938, đồng chí Võ Văn Tần được bầu vào thường vụ Trung ương và góp phần xây dựng chính sách mới của Đảng trong thời kỳ Mặt trận dân chủ.

 Cuối năm 1939, Ban Chấp hành Trung ương Đảng gồm có đồng chí Nguyễn Văn Cừ, Tổng bí thư của Đảng và các đồng chí Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần đã họp Hội nghị lần thứ 6 tại Hóc  Môn – Bà Điềm. Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 6 ra đời đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quá trình chuyển hướng chiến lược của Đảng đối với cách mạng Việt Nam. Với vai trò là Ủy viên Thường vụ Trung ương, Bí thư xứ ủy Nam Kỳ, đồng chí Võ Văn Tần đã có nhiều đóng góp quan trọng vào thành công của Hội nghị.

Ngày 28-8-1941, đồng chí Võ Văn Tần bị thực dân Pháp đưa ra xử bắn cùng với các đồng chí Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh  Khai, Nguyễn Hữu Tiến (Hải Đông) tại trường bắn Sở Rác (nay là bệnh viện Hóc Môn).

Phát biểu tại buổi tọa đàm, PGS.TS Phạm Ngọc Anh, Viện trưởng Viện Hồ Chí Minh và các lãnh tụ của Đảng nhấn mạnh, đồng chí Võ Văn Tần, nguyên Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, nguyên Bí thư Xứ ủy Nam Kỳ là một trong những chiến sỹ cách mạng thuộc lớp đảng viên đầu tiên của Đảng. Trưởng thành qua các cuộc cách mạng khốc liệt của dân tộc ta, trải qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, thường xuyên đối mặt với sự truy lùng của kẻ thù, đồng chí Võ Văn Tần luôn thể hiện lòng trung thành tuyệt đối với lý tưởng cộng sản, với lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Đồng chí đã cống hiến trọn đời mình vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì tự do, hạnh phúc của nhân dân.

Tại tọa đàm, các đại biểu đã tham luận, phát biểu ý kiến, tập trung vào một số nội dung: những nhân tố tác động đến việc hình thành nhân cách Võ Văn Tần; Võ Văn Tần – Nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng; Võ Văn Tần – tấm gương người cộng sản mẫu mực.

Tham luận tại tọa đàm, đồng chí Trần Mỹ Hà, Trưởng phòng Lịch sử Đảng – Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Long  An nhấn mạnh chính truyền thống quê hương, gia đình, dòng họ đã hình thành nhân cánh, khí phách hào khí cộng sản của đồng chí Võ Văn Tần.

 
Đồng chí Trần Mỹ Hà, Trưởng phòng Lịch sử Đảng,
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Long  An phát biểu tại buổi tọa đàm.

Đồng chí Võ Văn Tần sinh ra và lớn lên trong gia đình có truyền thống cần cù lao động và hiếu học, Võ Văn Tần ngay từ sớm đã chứng kiến cảnh nước mất nhà tan, đồng bào sống cơ cực, lầm than dưới ách quân xâm lược, nên người thanh niên Võ Văn Tần sớm hình thành tình cảm yêu nước, thương dân. Đó chính là nhân tố thúc đẩy Võ Văn Tần giác ngộ lý tưởng cộng sản và đi theo con đường cách mạng. Quê hương, dòng họ đã ảnh hưởng rất lớn đến quá trình tham gia và hoạt động cách mạng của đồng chí. Thừa hưởng truyền thống cao đẹp của quê hương, những tấm gương đấu tranh không khoan nhượng của truyền thống gia đình, bản thân đồng chí Võ Văn Tần còn là người có tư chất thông minh, tính tình khẳng khái, đức độ, thương người, được người dân yêu mến, nể phục, chở che. Thấu hiểu được nỗi nhục mất nước, kiếp nô lệ lầm than, ông trăn trở và day dứt không ngừng về tìm kiếm con đường đấu tranh giải phóng cho quê hương, dân tộc. Bằng cảm quan và trí tuệ mẫn tiệp, ông đã tìm ra ánh sáng của con đường giải phóng dân tộc là con đường giải phóng dân tộc là con đường cách mạng vô sản do đồng chí Nguyễn Ái Quốc sáng lập.

Nói về những cống hiến của đồng chí Võ Văn Tần trong giai đoạn cách mạng 1939-1940, đồng chí Nguyễn Thị Thu Trang (Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh) cho biết, trưởng thành từ phong trào cách mạng, trên mọi  cương vị công tác từ bí thư chi bộ, bí thư Quận ủy, bí thư Tỉnh ủy, bí thư Xứ ủy, Ủy viên Trung ương, Ủy viên Thường vụ Trung ương,… đồng chí Võ Văn Tần đều hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, có những cống hiến về tư duy sắc bén và định hướng lớn cho sự nghiệp đấu tranh cách mạng của Đảng và của dân tộc.

Trên cương vị Ủy viên Thường vụ Trung ương, bằng kinh nghiệm công tác và sự hiểu biết thực tiễn sâu sắc, tư duy sắc sảo và kiên định, đồng chí không chỉ hoàn thành công tác chuẩn bị cơ sở, bảo đảm an toàn về mặt tổ chức của Đảng mà còn có nhiều đóng góp tích cực về mặt định hướng và quan điểm lý luận cho sự thành công của các Hội nghị Trung ương lần thứ tư, lần thứ năm, lần thứ sáu.

Suốt cuộc đời, đồng chí Võ Văn Tần luôn gắn bó máu thịt với nhân dân. Là một trong những nhà lãnh đạo trưởng thành từ cơ sở, tự rèn luyện để trưởng thành, trải qua nhiều cương vị công tác, đồng chí Võ Văn Tần luôn có tác phong làm việc khoa học, sâu sát bám sát thực tiễn và phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng.

Đồng chí Võ Văn tần là tấm gương sáng về nói đi đôi với làm, lý luận gắn với thực tiễn. Đồng chí thường nói: “Mình làm cách mạng mà không để cho nhân dân tin tưởng ở lời nói và việc làm của mình thì khó mà làm cách mạng được”. Bởi vậy, trong suốt những năm tháng hoạt động cách mạng, dù ở đâu, đến đâu, hay trên cương vị công tác nào, đồng chí Võ Văn Tần cũng đều nhận được tình cảm trân trọng, quý mến, sự giúp đỡ vô tư chí tình của đồng chí, đồng bào, để lại nhiều ấn tượng tốt đẹp trong lòng mọi người. Cũng chính tác phong gương mẫu và gần gũi với mọi người, đồng chí  luôn nhạy bén, nắm bắt được những vấn đề cốt lõi từ thực tiễn cách mạng, kịp thời có những ý kiến đề xuất với Đảng các vấn đề quan trọng về đường lối và sự lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng. Trong cuộc sống, đồng chí Võ Văn Tần sống rất giản dị, tôn trọng và gần gũi mọi người, là tấm gương mẫu mực đối với đồng chí, đồng đội và gia đình.

Cuộc  đời đồng chí Võ Văn Tần là một tấm gương cao đẹp về lòng trung thành vô hạn với lý tưởng, về ý chí và tinh thần cách mạng của một chiến sỹ cộng sản kiên cường quả cảm. Hoạt động cách mạng trong thời kỳ Đảng mới thành lập, phong trào  cách mạng liên tục bị kẻ thù khủng bố, cơ quan lãnh đạo của Đảng nhiều lần bị tan vỡ, bản thân bị kẻ thù truy lùng ráo riết, bất chấp hy sinh gian khổ, đồng chí Võ Văn Tần luôn kiên định con đường đã chọn, bền bỉ hoạt đọng gây dựng cơ sở cách mạng. Sự kiên định của Võ Văn Tần là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng về lý tưởng sống để thế hệ trẻ noi theo và học tập.

Hiện  nay, toàn Đảng và toàn dân ta đang tích cực đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh theo tinh thần Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị khóa XII. Một trong những nội dung quan trọng trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về lòng trung thành với lý tưởng, tinh thần trách nhiệm hết lòng, hết sức phụng vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các đồng chí lãnh đạo tiền bối tiêu biểu của Đảng.

Kết quả tọa đàm khoa học ngày hôm nay không chỉ là sự tri ân của Đảng và nhân dân ta đối với đồng chí Võ Văn Tần mà còn góp phần vào việc tuyên truyền giáo dục nâng cao ý thức giác ngộ, lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân vào Chủ nghĩa Mác- Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vào thắng lợi sự nghiệp cách mạng và công cuộc đổi mới toàn diện, đồng bộ do Đảng ta lãnh đạo. 

BAN TUYÊN GIÁO TRUNG ƯƠNG

Video hoạt động

QUY HOACH.png
DAUTHAU.png
du an dau tu.png

z2615644676645 cb140a8573bb0f9f0f94b7488171d6d7

banner

 
 lichcongtac

congbaohb

133154
Hôm nay
Hôm qua
Tuần này
Tuần trước
Tháng này
Tháng trước
Tất cả các ngày
373
709
1082
1274
8496
0
133154

Your IP: 3.235.174.99
2021-07-26 11:25
 
TRANG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ SỞ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG TỈNH HÒA BÌNH
Địa chỉ: Đường Trần Hưng Đạo, Phường Phương Lâm, Thành phố Hòa Bình, Tỉnh Hòa Bình
Tel: 0218. 6251999 - Fax: 0218. 3898678 - Email: sothongtin@hoabinh.gov.vn
Ghi rõ nguồn Trang thông tin điện tử Sở Thông tin và Truyền thông tỉnh Hòa Bình khi trích dẫn lại tin từ địa chỉ này.
Template Settings

Color

For each color, the params below will be given default values
Blue Oranges Red

Body

Background Color
Text Color

Header

Background Color

Spotlight3

Background Color

Spotlight4

Background Color

Spotlight5

Background Color

Footer

Select menu
Google Font
Body Font-size
Body Font-family
Direction